Wednesday, 22/01/2020 - 20:20|
Chào mừng quý Thầy Cô và các bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Nguyễn Trãi
Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông
Đổi mới phương pháp dạy                                 học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông

Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông

 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
     Hơn lúc nào hết, việc đôi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay mà Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết qủa giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học”[1]...Định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học theo định hướng năng lực người học. Từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Vì vây, chúng tôi cho rằng việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cần thiết trong yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
     2. NỘI DUNG
     2.1. Thực trạng vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học trong thời gian qua
     Trong thực tế vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa “nhập cuộc”, vẫn lên lớp giảng dạy với những phương pháp rất đỗi quen thuộc: chỉ thuyết trình hoặc thuyết trình kết hợp một số rất ít các câu hỏi đàm thoại. Thực tế ấy có thể do giáo viên ngại đổi mới mà cũng có thể là do giáo viên lúng túng chưa biết nên đổi mới phương pháp ra sao?. Vấn đề đặt ra là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là thế nào? Vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại ra sao? Phương pháp dạy học truyền thống có nên sử dụng nữa hay không?,... 
     Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do:
     - Nhận thức của cán bộ, giáo viên ở các nhà trường về dạy học tích hợp và đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích hợp nhằm phát triển năng lực người học chưa đầy đủ, sâu sắc; - Hoạt động triển khai đổi mới phương pháp dạy học ở số đông các trường chưa quyết liệt, chưa hiệu quả, còn mang tính tự phát của từng giáo viên; - Nhìn chung, giáo viên ở các nhà trường tuy năng động, nhanh nhạy đổi mới phương pháp dạy học, song kinh nghiệm, trình độ sư phạm của một bộ phận giáo viên còn hạn chế mặc dù đa số các nhà trường đã trang bị khá đầy đủ, chu đáo các điều kiện về cơ sở vật chất,...
     - Thực tiễn đáng bàn là để “an toàn”, giấu khuyết điểm về hạn chế năng lực sư phạm, nhiều giáo viên ngại đổi mới, bằng lòng với phương pháp truyền thụ “một chiều” và “vốn kinh nghiệm” sẵn có của mình, mà chưa quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự nghiên cứu, sự tranh luận, thảo luận của học sinh. Đó thật sự là những trở ngại to lớn cho quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông, nhưng không phải là không thể vượt qua. Từ thực tiễn giảng dạy và dựu giờ của giáo viên và học sinh, chúng tôi cho rằng hoàn toàn có thể đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông hiện nay để mỗi giờ dạy lại đem đến cho học sinh niềm vui, sự hứng thú mới mẻ.
     2.2. Đổi mới phương pháp dạy hoc theo định hướng phát triển năng lực
     2.2.1. Một số vấn đề lý luận về năng lực
     - Theo Weinert: “Năng lực là một số sở hữu của cá nhân, đó là những khả năng mà cá thể có được nhờ cái kết hợp giữa cái sẵn có và cái học tập được về các kỉ năng nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề cụ thể, các ý chí, động lực liên quan, sự sẵn sàng hoạt động xã hội. Những yếu tố này giúp mỗi người thành công trong việc xử lý các sự cố và có trách nhiệm trong các tình huống khác nhau” (2; tr 17]. Nói cách khác, năng lực là khả năng hành động giải quyết các tình huống xãy ra trong đời sống của mỗi cá nhân.
     - Cũng có quan niệm cho rằng:“Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phản ánh bởi cách làm việc có hiệu quả và có trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, trong những tình huống khác nhau, trên cớ ở có kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó có kết qủa tối ưu”[3;tr. 215]
     Có thể hiểu một cách khái quát: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu qủa và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp xã hội hay cá nhân trong từng tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
     Theo các quan niệm trên, một người được đánh giá là có năng lực về một lĩnh vực nào đó, nghĩa là, không chỉ có kiến thức, kỉ năng, thái độ vào một hoạt động cụ thể, trong một điều kiện cụ thể mang lại những giá trị tương ứng.
     2.2.2. Đổi mới phương pháp dạy hoc theo định hướng phát triển năng lực
     Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình dạy học nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển khả năng huy động tổng hợp mọi nguồn lực (bao gồm những tố chất sẵn có, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí...) để thực hiện thành công hoạt động trong những bối cảnh nhât định.
     Có thể thấy, dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình dạy học hướng đến kết quả đầu ra. Trong quá trình ấy, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự giác, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập để từng bước hình thành, phát triển cho bản thân những năng lực cần thiết, những năng lực này được mô tả một cách cụ thể, chi tiết và có quan sát, đánh giá được.
     Phát triển năng lực học sinh là phát triển năng lực nhận thức và kỹ năng vận dụng kiến thức vào việc giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Hay nói cách khác, phát triển năng lực học sinh là tạo cho học sinh có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của nhận thức, của việc phát triển tri thức và vận dụng tri thức vào các hoạt động đạt kết quả cao. Năng lực học sinh do nhiều thuộc tính cấu thành nên, đó là: thuộc tính mang tính chất bẩm sinh - di truyền như tư chất, thiên hướng, năng khiếu hay tài năng; thuộc tính tâm lý như tình cảm, lý trí, tính cách; thuộc tính xã hội như trình độ học vấn, sự sáng tạo, linh hoạt trong các hoạt động và môi trường giáo dục. Như vậy, năng lực của học sinh là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập. Năng lực được thể hiện ở những mặt cơ bản như sau: năng lực nhận thức tri thức và phát triển tri thức; năng lực độc lập, sáng tạo, giải quyết một cách linh hoạt và có hiệu quả những nhiệm vụ đặt ra; năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức, năng lực phân tích. 
     Năng lực học sinh không phải là một cái gì chung chung mà là bao gồm những thuộc tính, những mặt rất cụ thể. Do đó, để phát triển năng lực của học sinh thì trước hết phải hướng vào phát triển những thuộc tính, những mặt cụ thể nói trên. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp nói chung nhằm phát triển năng lực học sinh không thể không hướng đến những thuộc tính, những mặt ấy. Chính vì thế, nên một trong những nhiệm vụ và giải pháp của đổi mới giáo dục hiện nay là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”[4, tr.128-129]. 
     Khi nói đến năng lực học sinh thường gắn liền với phẩm chất của nó. Phẩm chất của học sinh được thể hiện qua các mặt đó là phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, lối sống, ý thức, trách nhiệm, niềm tin lý tưởng. Những mặt đó phải thông qua giáo dục mới hình thành và phát triển. Vì thế, phát triển phẩm chất của học sinh phải thông qua giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, lối sống và những hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống xã hội và trong nhà trường. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập như hiện nay, con người - nguồn lực đóng vai trò quyết định rất cần có cả năng lực và phẩm chất. Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia đang chuyển mạnh từ nguồn tài nguyên, vốn sang nguồn lực con người đặc biệt là nguồn lực chất lượng cao. Phát triển nguồn nhân lực không thể chỉ chú ý đến năng lực mà không chú ý đến phẩm chất. Nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phải là sự tổng hợp cả thể lực, trí lực và tâm lực. Tâm lực đó chính là cái cốt lõi của phẩm chất con người và được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế không phải bằng mọi giá, mà tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
     Thông thường người ta chia năng lực thành năng lực chung và năng lực chuyên môn (năng lực chuyên biệt). Năng lực chung là những năng lực cơ bản, cần thiết hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động như: Năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán, năng lực hành vi, năng lực giao tiếp, năng lực vận động,... Năng lực chuyên biệt được hình thành trên cơ sở tiếp nhận tri thức của các môn khoa học như: Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Văn học, Lịch sử , Địa lí, Kinh tế, Chính trị, Luật học. Hay nói cách khác, năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phải hướng đến phát triển năng lực học sinh tương xứng với lĩnh vực đó. Phát triển năng lực cho học sinh phổ thông không chỉ phát triển năng lực chuyên môn mà còn phải phát triển năng lực chung. Nếu dựa vào mức độ phát triển cá nhân thì có “Năng lực học tập” “Năng lực nghiên cứu (phát triển, mở rộng ý tưởng”, “Năng lực sáng tạo”. Còn theo Giáo sư tâm lý học người Mĩ Howard Gardner, con người có 7 năng lực, tương đương với 7 loại trí tuệ khác nhau: 1) Năng lực trí tuệ ngôn ngữ (Năng lực diễn tả ngôn ngữ dễ dàng bằng nói hay viết); 2) Năng lực trí tuệ logic- toán (Năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc); 3) Năng lực trí tuệ không gian (khả năng tiếp nhận thế giới bằng thị giác- không gian, cho phép con người tưởng tượng ra sự vật dưới các gốc độ nhìn khác nhau); 4) Năng lực trí tuệ hình thể- động năng (các yếu tố cơ bản giúp cơ thể vận động kheo léo); 5) Năng lực trí tuệ âm nhạc (Năng lực tạo ra sự thưởng thức nhịp điệu, cung bậc, âm sắc, biết thưởng thức các dạng biểu cảm âm nhạc); 6) Năng lực trí tuệ giao tiếp (thể hiện ở khả năng hướng các hoạt động trí tuệ giao tiếp ra bên ngoài, trong mối quan hệ với người khác; 7) Năng lực trí tuệ nội tâm (năng lực đánh giá cảm xúc cá nhân, sự phân biệt giữa cảm xúc và hành vi, hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân), ...
     Trong các năng lực nói trên thì trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, người giáo viên cần quan tâm đến năng lực tự học các môn học.
     Năng lực tự học là một trong những năng lực chung quan trọng cần được hình thành và phát triển cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn học, cấp học. Năng lực tự học giúp học sinh có khả năng học tập, tự học suốt đời để có thể tồn tại, phát triển trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế. Đo đó đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong dạy học ở trường phổ thông.
     Tự học là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học. Qúa trình dạy học chỉ có kết qủa khi người học tự nổ lực, tự học để năm vững tri thức mà nhân loại đã tích lũy được. Trong học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là người học tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Như vậy, có thể hiểu tự học là một bộ phận của việc học tập, là sự nổ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến một mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân lọai. Sự nổ lực đó của con người bao gồm cả tư duy, trí tuệ, động cơ tâm lý, thái đô, tình cảm. Muốn đạt được mục đích này đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
     Năng lực tự học có nhiều mức độ:
     Ở mức độ thấp hơn, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn đầu hình thành năng lực tự học đó là tự học có hướng dẫn, có sự hỗ trợ của giáo viên. Mỗi lời động viên, khen ngợi và phê phán với chứng cứ thuyết phục và nhân văn của giáo viên có tác dụng to lớn, gợi hứng thú học tập của học sinh hơn bất cứ phương tiện học tập hiện đại nào. Nhìn chung, việc tạo hứng thú cho học sinh không đơn giản là lời nhận xét khen - chê, mà quan trọng hơn là bằng sự đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia độ lượng của giáo viên...Ngoài năng lực tự học, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học người giáo viên cần phát triển cho học sinh năng lực tư duy phản biện, năng lực trải nghiệm thực hành vận dụng tri thức...
     Ở mức độ cao, tự học là quá trình tự thân người học hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện khả năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý của cơ sở giáo dục. Hướng dẫn người học biết cách lựa chọn tài liệu tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt, làm đề cương, biết cách lựa chọn từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,.... Ngoài ra, hướng dẫn học sinh còn thể hiện bằng cách lập các dự án chuyên môn, câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm, sáng tạo và các hoạt độg ngoại khóa... Muốn làm được điều này, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học người giáo viên cần bồi dưỡng học sinh năng lực làm việc độc lập, tự chủ tự giác và kiên trì mới đạt hiệu quả mong muốn, do đó tự học gắn liền với quá trình tựu giáo dục để có thể hình thành được những nét tính cách trên.
     Theo tác giả: Những năng lực đã được phát hiện và bồi dưỡng ở bậc tiểu học phải là nền tảng cơ bản để tiếp tục phát triển ở các cấp học tiếp theo. Thật vậy, nếu những năng lực này không được định hướng và phát triển thì chúng nhanh chóng bị thui chột và tất cả sẽ quay lại về từ đầu. Vì thế, trong quá trình xây dựng chương trình phổ thông mới rất cần sự đồng bộ và liên thông về mục tiêu, nội dung dạy học mà còn là sự chú trọng mức độ phát triển năng lực tương xứng.
     Như vậy, đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực sẽ có tác dụng tích cực đến việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Để khắc phục những bất cập và hạn chế trong thời gian vừa qua, nhằm phát huy vai trò, vị trí của các môn học trong nhà trường phổ thông trong việc phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, chúng ta cần triển khai các giải pháp sau: 
     Thứ nhất, đổi mới nhận thức, mà trước hết là nhận thức của đội ngũ giáo viên và các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường về ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học. Các môn học cần phải đặt đúng vị trí và phát huy mạnh mẽ vai trò của nó; nó phải nhận được sự quan tâm bình đẳng giữa các môn khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên; phải khắc phục lối tư duy chỉ quan tâm đầu tư đến dạy chữ, truyền thụ kiến thức, đối phó với thi cử, chạy theo thành tích; còn dạy người và phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học chỉ là thứ yếu.. Đổi mới nhận thức là một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì có nhận thức đúng thì mới có quyết tâm và hành động một cách có hiệu quả.
     Để thực hiện được giải pháp này, cần: - Thành lập nhóm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dạy học theo hướng phát triển năng lực tích hợp nói chung, phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nói riêng (có thể mới những chuyên gia của ngành cùng tham gia; - Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên; - Tổ chức trao đổi, thảo luận các vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ỏ cấp độ: Tổ, nhóm chuyên môn hoặc cấp trường; - Kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; - Sơ, tổng kết, tuyên dương, khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân thực hiện tốt chủ trương đổi mới phương pháp dạy học của nhà trường, đồng thời có hình thức phê bình, kỉ luật các tập thể, cá nhân không thực hiện tốt chủ trương này.
     Thứ hai, đổi mới chương trình phổ thông theo hướng hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với giai đoạn định hướng nghề nghiệp. Chúng ta biết rằng chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: thứ nhất, giai đoạn giáo dục cơ bản bao gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở; thứ hai, giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, đó chính là cấp trung học phổ thông. Do giáo dục định hướng nghề nghiệp nên giai đoạn này sẽ có sự phân hoá mạnh học sinh.. Do đó, đổi mới chương chẳng những phải hướng đến phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất, năng lực công dân mà còn định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá không thể tách rời đổi mới nội dung chương trình. Nội dung giáo dục bao giờ cũng giữ vai trò quyết định hình thức giáo dục, hình thức lên lớp. Khi phù hợp với nội dung và đối tượng người học thì hình thức lên lớp, hình thức kiểm tra mới phát huy tác dụng tích cực của nó trong việc phát huy năng lực và phẩm chất của người học. 
     Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo, tính tự học, kỹ năng vận dụng thức vào trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của mỗi học sinh. Phát triển năng lực học sinh đó là mục tiêu đặt ra hiện nay, mục tiêu này đòi hỏi đổi mới phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang phương pháp dạy học phát triển năng lực. Phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh là phương pháp mới. Vì thế, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ về nội dung, chương trình, đội ngũ giáo viên, điều kiện vật chất và cách thức tổ chức thực hiện. Trong giảng dạy phải khuyến khích năng lực tự học của học sinh. ''Tự học thì mới thực sự là học: học do nhu cầu và động lực bên trong; học một cách tự giác, chứ không phải bắt buộc và miễn cưỡng. Tự học thì mới có thể học ở mọi nơi và mọi lúc, tự học thì mới duy trì được tính liên tục của hoạt động học tập trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Tự học thì mới tạo được sự thích ứng linh hoạt của mỗi người trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, thích ứng với tốc độ phát triển và nhân rộng tri thức vô cùng nhanh chóng. Tự học (chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục) thì mới không ngừng nâng cao năng lực và làm giàu tri thức” [5, tr.80].
     Năng lực và phẩm chất có mối quan hệ mật thiết với nhau và tạo nên phát triển toàn diện cả tài và đức. Do đó, đổi mới phương pháp dạy học cần phải tạo môi trường học tập tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh; gắn kết các cơ sở đào tạo giáo viên với các trường phổ thông. Thông qua các hoạt động xã hội, để giúp cho học sinh được trải nghiệm và sáng tạo. Chỉ có thông qua trải nghiệm, chúng ta mới gắn được lý luận với thực tiễn, học với hành, nhà trường với xã hội, lý trí với tình cảm; từ đó, hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Khơi dậy và phát huy những năng lực và phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như hiếu học, cần cù, thông minh, sáng tạo, nhân ái, khoan dung, trung thực, tự trọng thông qua hoạt động dạy và học trong nhà trường; thông qua việc gắn kết hoạt động của nhà trường với hoạt động của cộng đồng và xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ việc đổi mới công việc lựa chọn, thiết kế nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy và học.
     Thứ tư, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của người học. Khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo và thể hiện tình cảm, đạo đức, trách nhiệm của mỗi học sinh trước yêu cầu của xã hội. Nội dung của đề thi phải hướng về hiểu biết thực tế và vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Khắc phục cách đánh giá chất lượng giáo dục đồng nhất với đánh giá năng lực học sinh mà không thấy rằng chất lượng giáo dục còn bao hàm cả mặt phẩm chất. Nếu không khắc phục cách đánh giá này thì chúng ta chưa thoát ra được tình trạng chỉ quan tâm đến dạy chữ mà không quan tâm đến dạy người. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hệ luỵ tiêu cực trong học sinh phổ thông. Song, cũng cần khắc phục khi đánh giá phẩm chất lại không gắn với năng lực học sinh. Do đó, thi, kiểm tra, đánh giá cần phải có cơ cấu hợp lý để vừa phát triển năng lực, lại vừa phát triển phẩm chất của học sinh. 
     Thư năm, để nâng cao chất lượng và vị thế của đội ngũ giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông cần phải rà soát, chuẩn hoá và nâng chuẩn đội ngũ nhằm đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng; các trường đại học có điều kiện cần mở đào tạo cao học chuyên ngành, bản thân đội ngũ giáo viên phải khắc phục tâm lý tự ty, nỗ lực cố gắng phấn đấu vươn lên trong học tập và giảng dạy. Khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên phấn đấu và học tập để nâng cao năng lực và phẩm chất. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển năng lực cho học sinh phổ thông. Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định của đổi mới giáo dục. Không có một đội ngũ giáo viên mạnh thì không thể có một kết quả tốt trong đổi mới phương pháp, đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá theo hướng phát huy năng lực và phẩm chất của học sinh phổ thông. 
     Những giải pháp trên, có vai trò khác nhau nhưng chúng tồn tại không tách rời nhau mà mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, không được tuyệt đối hoá bất cứ một giải pháp nào mà trái lại, chúng ta phải thực hiện một cách đồng bộ; có như thế các giải pháp mới phát huy hiệu quả cao. Trong các nhóm giải pháp trên, thì giải pháp về đổi mới nội dung chương trình; nâng cao chất lượng và vị thế đội ngũ giáo là giải pháp quan trọng nhất, cơ bản nhất. Bởi đây là những giải pháp nền tảng làm tiền đề đảm bảo cho các giải pháp khác triển khai một cách khả thi và có hiệu quả.
     Thứ sáu, Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
     Các nhà trường phổ thông cần tập trung đầu tư cho thư viện và phát triển các kho sách và tài liệu trong thư viện mà học sinh bắt buộc phải đọc và nghiên cứu. Thư viện gồm:- Tài liệu dạng “truyền thống” in trên giấy như sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng của giáo viên, sách, báo, tạp chí,...; - Tài liệu dạng “hiện đại”, tài liệu nghe – nhìn, tài liệu điện tử (lưu trữ trên đĩa CD-ROM, bài giảng điện tử, cơ sở dữ liệu online,..;- Ngoài việc mua sắm, cần có chính sách động viên và tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của giáo viên tự biên soạn tài liệu, tự làm đồ dùng dạy học, học tập của bản thân.
     Nhà trường cần tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có đầy đủ giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu,... Sách, tài liệu, giáo trình cần được biên soạn theo hướng “Hướng dẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu”. Trong giáo trình, tài liệu ngoài những nội dung kiến thức chung, cơ bản cần phải có những tình huống, những câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh tự học về lý thuyết và thực hành; thậm chí có cả đáp án và lời giải phản hồi,.. để học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi, bổ sung hoặc tự giải thích những tình huống và khi cần thiết có thể tham khảo cách giải quyết có sẵn để tự đánh giá mức độ kết quả học tập đã đạt được của mình. Ngoài ra tài liệu mà giáo viên biên soạn cần cập nhật kiến thức mới, chất lượng đảm bảo các yếu tố hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam.
     3 . KẾT LUẬN
      Năng lực ở lứa tuổi học sinh là một hiện tượng phức tạp, mang tính quá trình: có những năng lực hình thành ở lứa tuổi này mà không hình thành ở lứa tuổi khác; có những năng lực hình thành từ trong nhà trường nhưng cũng có những năng lực hình thành từ trong đời sống xã hội,…
     Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay. Việc chuyển từ dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực sẽ góp phần đổi mới, năng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, do chương trình các môn học hiện hành ở trường phổ thông được xây dựng theo định hướng nội dung, nên việc tổ chức các hoạt động dạy học theo cách tiếp cận mới cho một chương trình cũ đang đặt ra nhiều thách thức cả về lý luận và thực tiễn. Trong khi chờ đợi chương trình, sách giáo khoa mới phù hợp hơn với cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực, mỗi người giáo viên với lương tâm và trách nhiệm của mình cần phải không ngừng tìm tòi, học hỏi, đổi mới, sáng tạo để mang lại cho các em học sinh thân yêu những bài dạy bổ ích, tràn đầy những giá trị nhân văn, giúp học sinh biến những tri thức thành tình cảm, niềm tin, lẽ sống lành mạnh và thôi thúc các em có lý tưởng , hoài bảo để chuẩn bị làm hành trang bước vào cuộc sống, cần chú trọng hình thành và phát triển các dạng năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại. Trong đó năng lực tự học cần được xem là năng lực cốt lõi của mỗi công dân, từng bước hoàn thiện các tri thức cơ bản, thì những thức đó sẽ hữu ích cho cuộc sống đa dạng ngoài thực tiển./
Th.S Đỗ Hữu Quỳnh - Th.S Trần Ngọc Có
Phòng GD&ĐT huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục năm 2017
về “Chất lượng giáo dục phổ thông”của Ủy ban Văn hóa,
Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng 
Quốc Hội khóa XIV - Hà Nội, ngày 22/9/2017

Danh mục:

Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 16
Hôm qua : 29
Tháng 01 : 1.284
Năm 2020 : 1.284